Các biện pháp và điều kiện tự vệ thương mại và điều kiện áp dụng tại Việt Nam

0
102

1/ Các biện pháp tự vệ thương mại

Theo điều XIX vá Hiệp định về các biện pháp tự vệ của WTO, một quốc gia có quyền lựa chọn 1 trong các biện pháp tự vệ sau:

– Tăng mức thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trần (biện pháp thuế quan)

– Áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch(biện pháp phi thuế quan)

a/ Biện pháp thuế quan

Đây là biện pháp mà WTO cho phép để bảo hộ thị trường trong nước và chủ yếu dưới dạng tăng thuế nhập khẩu, vì đây là công cụ đảm bảo tính minh bạch và dễ dự đoán, được thực hiện bằng những con số rõ ràng, do vậy người ta có thể thấy được mục đích bảo hộ dành cho 1 ngành sản xuất của mỗi quốc gia.

Ngoài ra, do biện pháp thuế quan chỉ làm tăng giá sản phẩm nên cũng không làm cho thương mại bị bóp méo và đảm bảo cho “bàn tay vô hình”của thị trường thực hiện được chức năng của mình. Tuy nhiên khi tham gia vào quá trình hội nhập, các nước phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và phải có lịch trình cắt giảm cụ thể.

b/ Các biện pháp phi thuế quan

Trước kia các nước nhập khẩu thường sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện(VERs- Voluntary Export Restrains), qua đó lợi dụng ảnh hưởng của mình để qua đó ép buộc các nước đối tác tự nguyện hạn chế xuất khẩu, đồng thời cơ chế này cũng thể hiện sự phân biệt đối xử rất rõ.

Vì vậy trong hiệp định về các biện pháp tự vệ, WTO đã cấm sử dụng VERs mà thay vào đó là các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm:

– Hạn ngạch:

Hạn ngạch là biện pháp dùng để hạn chế số lượng hay giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm).Có 2 loại hạn ngạch:

+ Hạn ngạch tuyệt đối : là hạn gạch mà khi áp dụng, nếu hàng hoá nhập khẩu vượt quá một khối lượng đã quy định thì không được cấp giấy phép XK.

+ Hạn ngạch thuế suất thuế quan : Là hạn ngạch mang khi áp dụng, nếu khối lượng hàng hoá nhập khẩu không vượt quá mức độ quy định thì sẽ đánh thuế suất thông thường, ngược lại sẽ đánh thuế suất bổ sung hay đánh thuế tăng lên theo phân tăng lên theo từng phần tăng tương ứng của số lượng hàng hóa NK

– Các công cụ khác:

Một số biện pháp phi thuế quan khác mà các quốc gia có thể áp dụng là cấm NK, cấp giấy phép nhập khẩu hay phụ thu đối với hàng NK..v..v.. Các biện pháp này thường mang tính chủ quan của nước NK với mục đích bảo hộ nền  sản xuất nội địa nên WTO coi những biện pháp này làm hạn chế rõ rệt tác dụng của tự do thương mại và yêu cầu xóa bỏ thay vào đó là các biện pháp hạn ngạch hoặc hạn ngạch thuế quan.

Các biện pháp tự vệ thương mạiCác biện pháp tự vệ thương mại

2/ Điều kiện chung áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại

WTO trong các văn bản của mình đã đề ra những điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại mà theo đó, 1 quốc gia chỉ được quyền áp dụng biện pháp này nếu xét thấy đã hội tụ đủ các điều kiện sau:

a/ Phải có sự gia tăng đột biến về lượng hàng hoá nhập khẩu vào thị trường nội địa

Sự gia tăng hàng hoá nhập khẩu dẫn đến áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại được xác định dựa vào 1 số tiêu chí cụ thể : đó là sự gia tăng một cách một cách tương đối hay tuyệt đối về sản lượng số lượng hay giá trị của loại hàng hoá đó so với số lượng, khối lượng hay giá trị của hàng hóa tương tự hay hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước.

Mục 1 (a) điều XIX hiệp định GATT 1994 đưa ra khái niệm “sự thay đổi không lường trước – unforeseen development” theo đó sự gia tăng về số lượng hàng hoá nhập khẩu phải không lường trước được, nghĩa là sự biến đổi đó xảy ra sau khi các bên đã đàm phán và không có gì để khẳng định rằng các nhà đàm phán, những người đã đưa ra nhượng bộ thuế quan, có thể hay lẽ ra phải dự đoán được sự biến đổi đó.

Thực tiễn xét xử các vụ kiện liên quan đến tự vệ thương mại cho thấy sự gia tăng nhập khẩu để dẫn đến quyền áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại phải đáp ứng được các tiêu chí cả về định lượng cũng như định tính. Sự gia tăng này phải vừa mới diễn ra, phải mang tính bất ngờ, phải ở mức độ đủ lớn và phải gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng.

b/ Việc gia tăng hàng hoá nhập khẩu đó phải gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa

Việc xác định tổn hại dựa trên kết quả điều tra theo đó cơ quan chức năng đánh giá những yếu tố kinh tế có liên quan đến tình hình sản xuất của ngành này gồm:

– Tốc độ và sản lượng gia tăng nhập khẩu của sản phẩm liên quan một  cách tuyệt đối hay tương đối

– Lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu%thị phần trong nước.

– Sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận, năng suất, tỷ suất đầu tư..

– Tác động đến thị trường lao động.

Việc điều tra sẽ do 1 cơ quan chuyên trách ở mỗi quốc gia đảm nhiệm.Tuy nhiên, nếu như xét thấy bất kì 1 sự trì hoãn nào có thể làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn và khó phục hồi, các quốc gia có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời mà chỉ dựa vào những dấu hiệu ban đầu cho thấy có thiệt hại nghiêm trọng bắt nguồn từ gia tăng nhập khẩu, không cần đợi kết quả điều tra. Biện pháp này chỉ kéo dài tối đa 200 ngày và được áp dụng dưới hình thức tăng thuế suất.

Khoảng thời gian áp tự vệ tạm thời cũng sẽ được tính vào tổng thời gian áp dụng tự vệ thương mại. Nếu sau này kết quả cho thấy không đủ điều kiện áp dụng tự vệ thương mại thì các bên sẽ phải hoàn trả cho nhau ngay lập tức khoản thuế gia tăng đã thu được.

c/ Sự gia tăng về số lượng hàng hoá nhập khẩu đó phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra những thiệt hại nói trên

Một quốc gia sẽ không thể áp dụng được các biện pháp tự vệ thương mại nếu như không chứng minh được rằng có tồn tại bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ nhân quả giữa lượng nhập khẩu gia tăng đột biến của loại hàng hoá có liên quan với thiệt hại nghiêm trọng gây ra.

Việc chứng minh mối quan hệ này có thể dựa trên sự tương quan về thời gian xảy ra việc tăng lượng hàng hóa nhập khẩu tăng và thời gian xảy ra thiệt hại nghiêm trọng.

Tuy nhiên, nếu có những yếu tố khác không phải là gia tăng nhập khẩu, cùng trong thời gian đó gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại thì không thể suy diễn là thiệt hại đó là do việc hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. Điều này đồng nghĩa là các nhân tố gây thiệt hại cần phải được phân biệt và làm rõ, từ đó tạo nên giới hạn cho việc áp dụng tự vệ thương mại.

Xem thêm: viet luan van tieng anhviết luận văn thuê ở tphcmdịch vụ chạy spss

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.